.Gọi ngay
.Chat với chúng tôi qua Zalo

Cứu nguy doanh nghiệp sau đỉnh dịch Covid-19

 Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam cần nới hạn mức tín dụng, miễn hoặc cho vay ưu đãi với lãi suất thấp, nâng hạn mức tài sản thế chấp để hỗ trợ các doanh nghiệp bị giảm doanh thu và cạn kiệt dòng tiền sau tác động của đợt bùng phát dịch bệnh lần thứ 4, theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) – tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, chủ lao động và các hiệp hội doanh nghiệp.

Doanh nghiệp nông, lâm, thuỷ sản chỉ đủ sức cầm cự thêm 4,7 tháng

Chia sẻ tại Hội nghị trực tuyến giữa Thủ tướng với cộng đồng doanh nghiệp và các địa phương sáng 26-9, ông Phạm Tấn Công – Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết một doanh nghiệp điển hình chỉ có thể cầm cự thêm tối đa 6 tháng trong bối cảnh dịch Covid-19 tiếp tục tạo ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế. Còn doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực gồm nông lâm và thủy sản, thông tin truyền thông, xây dựng có thể cầm cự thêm với thời gian lần lượt là 4,7 tháng, 4,9 tháng, 5,3 tháng.

Thủ tướng chủ trì hội nghị đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp sáng 26-9. Ảnh: Nhật Bắc.

Theo ông Công, hiện chỉ có 30% số doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản tại tỉnh thành phía Nam còn hoạt động nhờ đảm bảo được điều kiện “3 tại chỗ”. Nhưng họ gặp rất nhiều khó khăn khó khăn vì chi phí tăng vọt và chỉ có thể huy động 30-50% số lao động. Còn công suất hoạt động hiện chỉ ở mức 40-50%.

Tương tự, chỉ có từ 15-20% số nhà máy sản xuất các ngành hàng liên quan đến xuất khẩu và sử dụng nhiều lao động hoạt động cầm chừng theo mô hình “3 tại chỗ”, còn 80-85% số nhà máy phải ngừng ngừng sản xuất, theo ông Công.

Với các doanh nghiệp ngành gỗ, Chủ tịch VCCI cho biết hơn 50% số doanh nghiệp tại khu vực Đông Nam Bộ dừng sản xuất và đang đối diện nguy cơ phá sản, theo ông Công. Còn doanh nghiệp ngành lữ hành, lưu trú và ăn uống đã chịu tác động nghiêm trọng trong 2 năm nay khi công suất phòng trung bình cả nước chỉ đạt 15%, thậm chí nhiều cơ sở phải đóng cửa.

Về lao động, khảo sát của VCCI với gần 3.000 doanh nghiệp cho thấy 90,8% số doanh nghiệp đã giảm quy mô lao động trong thời kỳ diễn ra dịch bệnh. Đáng lưu ý, tình trạng này diễn ra phổ biến ở các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh duyên hải miền Trung với tỷ lệ lần lượt 95%, 93% và 92%.

“Cứ khoảng 10 doanh nghiệp thì có 9 doanh nghiệp phải chấp nhận cho người lao động thôi việc do hoạt động sản xuất kinh doanh kém khả quan trong thời gian dịch bệnh bùng phát”, ông Công nhấn mạnh.

Cũng theo Chủ tịch VCCI, đa số doanh nghiệp cho biết dịch Covid-19 đã ảnh hưởng tới việc tiếp cận khách hàng, tiếp đến là bị ảnh hưởng về dòng tiền và người lao động. Ngoài ra, chuỗi cung ứng của nhiều doanh nghiệp bị gián đoạn.

Những vấn đề này và việc phải tạm dừng hoạt động do dịch, theo ông Công, khiến nhiều doanh nghiệp giảm doanh thu, cũng như đối mặt với rủi ro về thu hồi nợ, mất khả năng thanh toán.

Về kết quả triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, ông Nguyễn Chí Dũng – Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) cho biết tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận được với một số chính sách hỗ trợ về thuế, tín dụng, cho vay ưu đãi còn thấp do thủ tục còn phức tạp, một số điều kiện chưa phù hợp. Còn việc triển khai một số chính sách vẫn khá cứng nhắc và thiếu thống nhất ở một số địa phương, gây khó khăn cho đối tượng hỗ trợ.

Đáng lưu ý, vấn đề được các doanh nghiệp tiếp tục kiến nghị nhiều nhất là việc khẩn trương có hướng dẫn áp dụng các điều kiện tổ chức sản xuất an toàn trong tình hình mới và kế hoạch mở cửa của các địa phương để doanh nghiệp có thể chủ động phương án sản xuất kinh doanh.

Nhìn nhận doanh nghiệp là một chủ thể trong ứng phó Covid-19

Để hỗ trợ doanh nghiệp, ông Nguyễn Chí Dũng kiến nghị Bộ Y tế khẩn trương ban hành “Hướng dẫn lộ trình trở lại trạng thái bình thường mới” và triển khai các hoạt động kinh tế, xã hội đảm bảo an toàn phòng, chống dịch Covid-19 với hướng dẫn cụ thể về điều kiện tổ chức sản xuất an toàn trong tình hình mới để các địa phương và doanh nghiệp áp dụng trong thực tế.

Tương tự, ông Phạm Tấn Công kiến nghị Chính phủ xem xét, ban hành một Văn bản pháp luật mới thay thế các Chỉ thị 15, 16, 19 với nội dung phù hợp với quan điểm “sống chung lâu dài với dịch bệnh”.

Ngoài ra, cần xây dựng chính sách hỗ trợ, bổ sung trang thiết bị y tế và thuốc điều trị Covid-19 cho các doanh nghiệp đã có sẵn phòng y tế, tổ y tế. Đồng thời, huấn luyện thực hiện “Y tế tại chỗ” nhằm đáp ứng yêu cầu chống dịch tại doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, cần có cơ chế để huy động hệ thống y tế tư nhân tham gia công tác phòng chống dịch.

Hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn do dịch Covid-19. Ảnh minh hoạ: Lê Vũ.

Với các Bộ gồm Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công An, ông Công kiến nghị khẩn trương nghiên cứu hoàn thiện hệ thống “Thẻ xanh Covid-19”, thống nhất sử dụng 1 ứng dụng và có sự liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành liên quan. Đồng thời, điều chỉnh các quy định về nhập cảnh, giấy phép lao động cho phù hợp để tạo điều kiện ổn định nguồn nhân lực lao động trong nước, chuyên gia, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Những đề xuất này, theo ông Công, nhằm thực hiện 2 chủ trương mới. Thứ nhất, nhìn nhận các doanh nghiệp là một chủ thể trong ứng phó Covid-19, từ đó tin tưởng giao quyền, trang bị và nâng cao năng lực y tế tại chỗ cho các doanh nghiệp.

“Cần công nhận và cho doanh nghiệp chủ động tự xét nghiệm, tự điều trị các ca F0 nhẹ tuỳ theo khả năng, điều kiện của doanh nghiệp. Nhà nước chỉ cần hỗ trợ, hướng dẫn và ban hành các quy định, chính sách phù hợp”, ông Công nói.

Thứ hai, có chủ trương kiên quyết bảo vệ, hỗ trợ duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh an toàn của doanh nghiệp trong điều kiện sống chung với dịch.

Với hai chủ chương này, ông Công đề xuất cần có sự tham gia của đại diện cộng đồng doanh nghiệp trong cơ cấu Ban chỉ đạo phòng chống Covid-19 các cấp.

Mở rộng quy mô gói hỗ trợ doanh nghiệp tương đương 4% GDP

Để duy trì sản xuất kinh doanh an toàn trong bối cảnh dịch bệnh, ông Phạm Tấn Công mong muốn Chính phủ chỉ đạo các địa phương bãi bỏ ngay các quy định riêng của địa phương về hạn chế, kiểm tra, kiểm soát vận tải hàng hóa giữa các vùng. Theo đó, các địa phương chỉ kiểm tra tại các điểm giao nhận hàng hóa, không phân biệt hàng hóa thiết yếu. Còn lái xe chỉ cần xét nghiệm âm tính, tuân thủ 5K và các biện pháp an toàn khác.

Tương tự, ông Tetsu Funayama – đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (JCCI) – kiến nghị sớm bãi bỏ giấy đi đường.

Lý giải điều này, ông Tetsu Funayama cho biết nhiều doanh nghiệp tuyển được nhân sự mới, nhưng nhân sự không tới được doanh nghiệp và không ký được hợp đồng làm việc do không có giấy đi đường. Ngoài ra, các công ty quy mô lớn tốn rất nhiều nhân lực để làm thủ tục xin giấy đi đường cho hàng ngàn nhân viên, nhưng vẫn không thể theo kịp thời hạn do chính quyền đặt ra.

Với hoạt động lưu thông hàng hoá, ông Tetsu Funayama đề xuất cho phép tài xế đã tiêm vaccine phòng Covid-19 được hoạt động dễ dàng hơn và di chuyển bình thường giữa các khu vực nhằm hạn chế rào cản từ việc không có sự kết nối lưu thông giữa các địa phương.

Thậm chí, đại diện JCCI đã kiến nghị cho phép những người đã tiêm đầy đủ vaccine được lập tức đi lại trong nước. Ngoài ra, cần như căn cứ vào hộ chiếu vaccine và kết quả xét nghiệm RT-PCR để rút ngắn thời gian cách ly chuyên gia nhập cảnh vào Việt Nam.

Nhiêu doanh nghiệp kiến nghị Chính phủ, các Bộ, ngành cần thống nhất trong việc áp dụng giấy đi đường, ứng dụng kiểm soát di biến động. Ảnh minh hoạ: Lê Vũ.

Để giảm chi phí cho doanh nghiệp, ông Công đề xuất Chính phủ, Quốc hội đưa chi phí phòng, chống dịch vào chi phí sản xuất do hoạt động này đã trở thành một phần không thể tách rời trong quy trình sản xuất và kinh doanh doanh nghiệp.

Với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Chủ tịch VCCI kiến nghị xem xét phương án điều chỉnh, trình cơ quan có thẩm quyền cho phép nâng giới hạn làm thêm giờ để đáp ứng các yêu cầu riêng của các mô hình “3 tại chỗ”, mô hình “bong bóng sản xuất” và để đáp ứng nhu cầu trả đơn hàng đúng hạn sau thời gian dài sản xuất bị đình trệ.

Với Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam và hệ thống công đoàn các cấp, cần nghiên cứu, triển khai chương trình chăm sóc tinh thần người lao động, khích lệ người đang bám trụ giữ vững sản xuất, động viên những người đã về quê quay trở lại doanh nghiệp làm việc, theo ông Công.

Còn ông Nguyễn Chí Dũng cho rằng các địa phương cần kết hợp với doanh nghiệp để nghiên cứu, thống nhất phương án, điều kiện tổ chức sản xuất, kinh doanh an toàn nhằm thích ứng với diễn biến dịch bệnh ở địa phương và điều kiện thực tế của doanh nghiệp. Nhưng cần hạn chế tối đa đóng cửa toàn nhà máy.

Ngoài ra, cần nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng Chương trình phục hồi kinh tế bền vững đến năm 2023 cho các ngành, lĩnh vực trọng tâm của địa phương. Nhưng phải gắn với đảm bảo an sinh xã hội, hỗ trợ kịp thời người lao động và các đối tượng chính sách bị tác động bởi dịch bệnh.

Bên cạnh đó, tăng cường đối thoại giữa doanh nghiệp và chính quyền địa phương nhằm tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp và đánh giá thực chất quá trình xử lý các kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp, theo ông Dũng.

Về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi, Chủ tịch VCCI đề nghị Chính phủ chỉ đạo bộ, ngành, các cơ quan liên quan khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện miễn, giảm các loại thuế, phí, tiền điện, nước và các biện pháp đã nêu trong Nghị quyết 105/NQ-CP. Theo đó, cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số theo hướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tăng ít nhất 30% số lượng các thủ tục hành chính liên quan tới DN được thực hiện theo phương thức điện tử, không tiếp xúc.

Ngoài ra, ông kiến nghị Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam tiếp tục có những chính sách hỗ trợ mạnh hơn gồm: nới hạn mức tín dụng; miễn giảm hoặc cho vay ưu đãi với lãi suất thấp; nâng hạn mức tài sản thế chấp để tăng giá trị vốn vay lưu động từ 70% lên mức cao hơn.

Bên cạnh đó, cần tăng cơ hội tiếp cận vốn cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), doanh nghiêp siêu nhỏ và hộ kinh doanh qua các Quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ hỗ trợ DNNVV.

Đáng lưu ý, ông đề xuất Chính phủ mở rộng quy mô các gói hỗ trợ lên mức tương đương 4% GDP, tương ứng 250.000 tỉ đồng để và kịp thời để nắm bắt được thời cơ phục hồi. Hiện quy mô các gói hỗ trợ của Chính phủ một số quốc gia gồm Thái Lan, Indonesia và Philippines lần lượt ở mức tương ứng 12,4%, 5,4%, 3,6% GDP năm 2020.

Nguồn: Báo Kinh tế Sài Gòn